Blogger Widgets
Nguyen Tan Dung

Tieu su thu tuong Nguyen Tan Dung

Để tránh những luồng thông tin trái chiều và sai sự thật, Thôn làm báo đưa ra một số thông tin về tiểu sử của thủ tướng VN NGUYỄN TẤN DŨNG Đọc thêm...

Truong Tan Sang

Tiểu sử CTN Trương Tấn Sang

Tại phiên làm việc hôm nay (25/7), với 487 số phiếu tán thành, chiếm 97,4%, Quốc hội đã bầu ông Trương Tấn Sang giữ chức Chủ tịch nước. Xin trân trọng giới thiệu tóm tắt tiểu sử của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang Đọc thêm..

Lê Thanh Hải

Tiểu sử Lê Thanh Hải: Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành ủy TPHCM

Để trả lời cho câu hỏi Lê Thanh Hải là ai, tránh những luồng thông tin sai sự thật về ông Lê Thanh Hải, Thôn làm báo cung cấp tiểu sử/ lý lịch Lê Thanh Hải Ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Thành Ủy TP.HCM: Tiểu sử và quá trình hoạt độn Đọc thêm...

Nguyễn Phú Trọng

Tiểu sử Nguyễn Phú Trọng: Tổng bí thư ban chấp hành TW Đảng

Để trả lời cho câu hỏi ông Nguyễn Phú Trọng là ai? là người như thế nào ? Mời các bạn theo dõi những luồng thông tin đúng sự thật về tiểu sử/lý lịch và quá trình hoạt động của Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng Đọc thêm...

ALT_IMG

Tiểu sử Trần Đại Quang: Bộ trưởng Bộ Công an Ủy viên Bộ Chính trị

Để trả lời cho câu hỏi ông Trần Đại Quang là ai? là người như thế nào ? Mời các bạn theo dõi những luồng thông tin đúng sự thật về tiểu sử/lý lịch và quá trình hoạt động của Bộ trưởng Bộ Công an - Ủy viên Bộ Chính trị Trần Đại Quang Xem thêm...

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

TT Nguyễn Tấn Dũng chủ trì Hội nghị trực tuyến về giải quyết khiếu nại, tố cáo

0 nhận xét
Ngày 2/5, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì Hội nghị Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Báo cáo tình hình, kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2008 – 2011 do Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh trình bày tại Hội nghị cho thấy, trách nhiệm trong chỉ đạo, lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được nâng lên; công tác hoàn thiện cơ chế, chính sách góp phần hạn chế phát sinh khiếu kiện mới được quan tâm; công tác tiếp dân ở các tỉnh, thành phố đã được củng cố thêm một bước; giải quyết được khối lượng lớn vụ việc mới phát sinh và nhiều vụ đông người, phức tạp; việc phối hợp giữa các cơ quan ở Trung ương và địa phương được quan tâm hơn, nhất là xử lý các tình huống phức tạp phát sinh trong khiếu nại, tố cáo.


Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn những hạn chế, yếu kém như, một số địa phương chưa tổ chức tốt việc tiếp công dân, chưa gắn công tác tiếp công dân với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là ở cấp huyện; nhiều vụ việc giải quyết còn chậm; một số vụ việc giải quyết không đúng chính sách, pháp luật và thực tế; nhiều địa phương chỉ chú trọng đến việc giải quyết hết thẩm quyền mà chưa quan tâm đến giải quyết dứt điểm; còn hiện tượng né tránh, đùn đẩy, thấy sai phạm nhưng chưa có biện pháp khắc phục…

Trong thời gian từ năm 2008 – 2011, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp trên 1.571.500 lượt người đến khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận, xử lý 672.990 đơn thư. Năm 2011 so với năm 2008, số vụ việc tăng 26,4%; đoàn đông người 64,5%.

Cụ thể, kết giải quyết khiếu nại theo thầm quyền; các cơ quan chức năng đã giải quyết 257.419/290.565 vụ việc khiếu nại (đạt trên 88%). Qua phân tích cho thấy, số vụ khiếu nại đúng chiếm 19,8%; số vụ khiếu nại đúng, có sai chiếm 28%; khiếu nại sai chiếm 52,2%.

Về giải quyết tố cáo, đã giải quyết 33.160/39.107 vụ việc tố cáo (đạt trên 84%). Qua phân tích cho thấy, có 16,2% đơn tố cáo đúng, 29,6% đơn tố cáo có đúng, có sai; 54,2% đơn tố cáo sai.

Qua công tác giải quyết khiếu nại tố cáo, đã thu hồi về cho nhà nước gần 1.026 tỷ đồng, 1.241 ha đất; khôi phục quyền lợi cho 6.659 công dân với số tiền 595 tỷ đồng, 936 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 2.951 người; chuyển cơ quan điều tra 239 vụ, 382 người.

Về giải quyết các vụ việc tồn động, bức xúc, kéo dài; các Bộ, ngành, địa phương đã kiểm tra, rà soát, giải quyết dứt điểm được 1.052 vụ việc tồn động, bức xúc, kéo dài (đạt 66,7%). Hiện còn lại 528 vụ việc đang được tiếp tục xem xét, giải quyết.

Theo đánh giá, về tính chất, mức độ phức tạp, mặc dù so với những năm 2006-2007 tình hình khiếu nại tố cáo từ năm 2008 – 2011 ở một số địa bàn có giảm, nhưng về tổng quan, tình hình khiếu nại tố cáo diễn biến phức tạp và bức xúc ở nhiều nơi. Có lúc, có nơi đặc biệt phức tạp, gay gắt, biểu hiện rõ nhất là số đoàn đông người tăng mạnh, thái độ công dân đi khiếu kiện thiếu kiềm chế, khiếu nại tố cáo vượt cấp lên Trung ương gia tăng, tình trạng đơn thư gửi tràn lan mang tính phổ biến. Có nhiều vụ việc phát sinh từ những năm trước, đã được xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn khiếu kiện kéo dài, nhất là các vụ việc khiếu nại về thu hồi đất, đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai…

Đồng thời, có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại “liên kết” với nhau để khiếu nại đông người. Một số trường hợp có sự xúi giục, kính động của các thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người đi khiếu nại liên kết đông người có những hành vi quá khích, gây rối.

Tình hình khiếu nại tố cáo nêu trên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và tiềm ẩn những nguy cơ làm mất ổn định chính trị-xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm.

Nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân chủ yếu liên quan đến đất đai (chiếm 70%), trong đó nhiều nhất là khiếu nại việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội; khiếu nại đòi đất cũ, tranh chấp đất đai trong nhân dân qua các thời kỳ nhưng chưa được giải quyết dứt điểm; khiếu nại đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, đòi nhà thuộc diện thực hiện các chính sách về quản lý nhà…

Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại tố cáo có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó về khách quan có, chính sách bồi thường cho người có đất bị thu hồi còn nhiều bất cập (giá bồi thường thấp, hay thay đổi, thiếu nhất quán…); có sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất bồi thường so với giá trị trường hoặc giá nhà đầu tư bán; ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế nên đòi hỏi quá đáng hoặc bị các phần tử xấu lợi dụng kích động khiếu kiện kéo dài…  về chủ quan, công tác quản lý đất đai còn sơ hở, lòng lẻo; nhiều cán bộ lợi dụng tham nhũng, tiêu cực nhưng không bị xử lý nghiêm minh; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục, giải thích, hài hòa ngay từ cơ sở; chưa tập trung giải quyết khiếu kiện ngay từ đầu; công tác giám sát của cơ quan dân cử, của các tổ chức chính trị xã hội đối với công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo chưa thường xuyên;…

Về phương hướng, nhiệm vụ công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới, Thanh tra Chính phủ xác định nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới là tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; chủ động xử lý các nhiệm vụ về khiếu nại, tố cáo; kiểm soát tốt tình hình khiếu nại, tố cáo, không để xảy ra “điểm nóng”; đối với các vụ việc phát sinh mới tập trung giải quyết đạt tỷ lệ trên 85%.

Cùng với đó là tiếp tục rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài.

Từ nhiệm vụ nêu trên, Thanh tra Chính phủ đề ra 6 giải pháp là tăng cường công tác quản lý đất đai nhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo trên lĩnh vực này; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; củng cố, kiện toàn tổ chức, hoạt động của các cơ quan làm nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo; đảm bảo an ninh, trật tự trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và cuối cùng là tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại tố cáo để nâng cao hiểu biết pháp luật về khiếu nại, tố cáo của cán bộ, nhân dân.

Tại Hội nghị, Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Bộ Chính trị chỉ đạo tổ chức tổng kết việc thực hiện Kết luận 130-TB/TW ngày 10/01/2008 của Bộ Chính trị; các cơ quan có thẩm quyền đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật về đất đai; tiếp tục thực hiện Đề án “Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại, tố cáo cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn”; Quốc hội cần sớm ban hành Luật về Tiếp công dân, Luật về biểu tình làm cơ sở đấu tranh, xử lý những trường hợp lợi dụng khiếu nại, tố cáo gây rối…Hội nghị sẽ diễn ra trong hết ngày 2/5./.

Theo chinhphu.vn
Xem thêm →

Ngày 'Quốc hận' và trải lòng của một người bên kia chiến tuyến

0 nhận xét
Không thể quên thù hận đã là ngu xuẩn lắm rồi, nhưng ngu xuẩn hơn nữa nếu chúng ta lại truyền lại sự thù hận cho thế hệ sau để chúng tiếp nối sự thù hận mà chúng ta không thể quên được…

Nhân ngày Thống nhất Đất nước 30/4, REDS.VN xin giới thiệu với độc giả bài viết của Giáo sư Trần Chung Ngọc (cựu chiến binh VNCH, hiện đang định cư tại Mỹ), bày tỏ những suy tư của ông vể cái ngày lịch sử đầy tranh cãi trong cộng đồng người Việt ở xứ người.

Bài viết đã có sự biên tập nội dung của Ban quản trị REDS.VN. Độc giả có thể xem bài gốc trên trang SACHHIEM.NET với tựa đề “Ba mươi tháng Tư và tôi”.


“Nếu một người vẫn không thể quên thù hận, há chẳng ngu xuẩn lắm sao?” Đó là lời của Cổ Long trong đoạnkết của truyện kiếm hiệp “Cửu Nguyệt Ưng Phi”

Chiến tranh Việt Nam đã chấm gần 4 thập kỷ rồi, chiều dài của hơn một thế hệ. Tôi đồng ý với ông Cổ Long rằng đến bây giờ mà chúng ta không thể quên được thù hận thì quả thật là ngu xuẩn. Ở đây tôi muốn nói đến mối thù hận bất kể từ phía nào. Không thể quên thù hận đã là ngu xuẩn lắm rồi, nhưng ngu xuẩn hơn nữa nếu chúng ta lại truyền lại sự thù hận cho thế hệ sau để chúng tiếp nối sự thù hận mà chúng ta không thể quên được.

Trước hết tôi cần phải nói chút ít về tôi, dù cái tôi thật đáng ghét. Cá nhân tôi là một sĩ quan, xuất thân từ Khóa I Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định, đã phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong hơn 8 năm, đã cầm súng chống Cộng ở tiền tuyến, từ Quảng Bình (Tiểu đoàn 12) trước 1954, đến Qui Nhơn (Sư đoàn 22) và Kontum (Biệt khu 24) sau 1954. Và sau khi giải ngũ tôi cũng đã phục vụ trong ngành giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày chót.

Vậy vào những thời đó, tất nhiên không ít thì nhiều tôi cũng đã chống Cộng, nhất là tôi đã đọc về những tội ác của Cộng sản đối với người dân, về cuộc cải cách ruộng đất, về Tết Mậu Thân v..v…trong những tài liệu của miền Nam và của Mỹ. Và tôi đã chạy trốn Cộng sản sang Mỹ vào cuối tháng Tư năm 1975. Nhưng kết cục của cuộc chiến đã đưa đến cho tôi một thắc mắc và ấm ức. Thắc mắc và ấm ức đó là:

“Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay chiến đấu, về B52 để trải thảm bom từ trên thượng tầng không khí, xe tăng, tàu chiến, trọng pháo, truyền tin và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, rồi “tháo chạy” [từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng], và cuối cùng, Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” [từ của báo chí chống Cộng hải ngoại] được miền Nam? Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến?

Phải chăng phe Quốc Gia của chúng ta có vấn đề về chính nghĩa, về chủ quyền? Phải chăng quân dân miền Nam không tích cực chống Cộng? Hay phải chăng yếu tố quyết định là truyền thống yêu nước của người dân Việt Nam? Thực ra thì Quốc Gia và Cộng sản bên nào có Chính Nghĩa? Bên nào hợp lòng dân và được dân ủng hộ? Ý chí và khả năng chiến đấu của binh sĩ hai bên ra sao? Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo? Và còn những gì gì nữa?”

Tại sao chúng ta lại thua? Đó là niềm ấm ức đã ám ảnh đầu óc tôi trong vài năm đầu sống ở Mỹ sau 1975. Trong thời gian này, vì phải bắt đầu lại cuộc sống từ số không nên không có thì giờ tìm hiểu, tôi vẫn không giải đáp được thắc mắc trên. Nhưng thắc mắc trên cứ ám ảnh đầu óc tôi, cho nên khi đời sống kinh tế gia đình đã ổn định, tôi đã để thì giờ tìm hiểu và đọc rất nhiều sách và tài liệu viết về cuộc chiến ở Việt Nam, phần lớn là sách Mỹ, sách Pháp, và vài ba cuốn sách Việt, thí dụ như “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của Đỗ Mậu; “9 Năm Máu Lửa Dưới Chính Quyền Ngô Đình Diệm” của Nguyệt Đam và Thần Phong; “Đảng Cần Lao” của Chu Bằng Lĩnh”; Luận Án Tiến Sĩ “Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857-1914)” [Christianisme et Colonialisme au Viet Nam, 1857-1914], Đại Học Paris, 1969, của Cao Huy Thuần; “Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” của Hồ Sĩ Khuê v…v…

Bài “Đầu Hàng” của Vân Xưa trong cuốn của Hồ Sĩ Khuê là bài tôi thích nhất. Xin đừng hiểu lầm tôi thích là vì VNCH “đầu hàng”, mà vì bài viết phân tích tình hình khá hay và đầy tình người. Lẽ dĩ nhiên tôi cũng có những kinh nghiệm bản thân về Cộng sản cũng như Quốc Gia trong thời chiến, vì tôi là Sĩ Quan “Tác Động Tinh Thần”, sau đổi thành “Chiến Tranh Tâm Lý”, của Tiểu Đoàn 12. Tôi cũng đã chứng kiến cuộc đảo chính hụt của Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông v..v… cũng như cuộc oanh tạc Dinh Độc Lập của hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử. Và sau cùng là cuộc đảo chánh năm 1963 của Dương Văn Minh v… v… Tôi cũng đã nhìn thấy những khuôn mặt sáng sủa, trẻ trung, đầy tương lai trong các lớp học tôi dạy, từ Trung Học đến Đại Học, nhưng khó mà có thể có tương lai vì trước sau gì các em cũng bị lôi cuốn vào cuộc chiến tương tàn.


Ngày nay, lịch sử đã rõ ràng. Với những kiến thức mới về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ, cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng, xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của đế quốc Mỹ.

Ngày 14/8/1945, Tổng Thống Pháp De Gaulle bổ nhiệm Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ Huy lực lượng ở Đông Dương và chỉ định Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy để cắm lại lá cờ tam tài của chúng ta ở đó (pour y replanter notre drapeau). Và Mỹ đã giúp hơn 80% chiến phí cho Pháp trong mục đích thực dân này. Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ. Đây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái.

Thật vậy, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, Walter Bedell Smith xác định trong bản Tuyên Ngôn tại Washington D.C. về Hiệp Định Geneva như sau:

“Trong trường hợp những quốc gia nay bị chia đôi ngoài ý muốn, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm giải pháp thống nhất qua bầu cử tự do, giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm là bầu cử được thi hành nghiêm chỉnh” và “Hoa Kỳ sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp”

Xác định như vậy nhưng Mỹ đã nuốt lời hứa và dùng võ lực để can thiệp ngay vào nội bộ Việt Nam.., dùng tay sai Ngô Đình Diệm để phá sự thống nhất của đất nước qua bầu cử tự do, rồi chỉ đạo cuộc chiến và phạm rất nhiều tội ác ở Việt Nam. Trong cuốn The United States In Vietnam: An Analysis In Depth Of The History Of America’s Involvement In Vietnam, hai Giáo sư đại học Cornell, George McTurnan Kahin và John W. Lewis, viết ở trang 59:

“Tuy Hoa Kỳ nói rằng “sẽ tự kiềm chế, không đe dọa hay dùng võ lực để phá những sự Thỏa Hiệp” nhưng điều hiển nhiên chúng ta thấy ngay sau đó là Hoa Kỳ đã sửa soạn dùng mọi phương cách khác để ủng hộ chế độ Sai Gòn [do Mỹ dựng lên] trong việc không tôn trọng những điều khoản trong Thỏa Hiệp”

Sự kiện là, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về để chống Cộng cho Mỹ ở Nam Việt Nam, và đơn phương từ chối không thi hành khoản tổng tuyển cử tự do trên toàn đất nước vào năm 1956 trong Hiệp Định. Tại sao? Vì Tổng Thống Eisenhower của Mỹ đã nhận định, nếu có một cuộc tổng tuyển cử tự do vào năm 1956 thì ông Hồ Chí Minh sẽ được ít nhất là 80% số phiếu. Vào thời đó, với uy tín của ông Hồ và Việt Minh sau trận Điện Biên Phủ, Việt Minh không cần phải tổ chức một cuộc bầu cử gian lận như Ngô Đình Diệm đã làm ở miền Nam với số phiếu ở Sài Gòn nhiều hơn số cử tri.

Tưởng chúng ta không nên quên là ngay từ sau Hiệp Định đình chiến 1954, Mỹ đã gửi Lansdale ra ngoài Bắc để phá hoại, tuyên truyền, và cổ võ giáo dân Công giáo di cư vào Nam với những khẩu hiệu như “Chúa đã vào Nam” và “Đức Mẹ đã di cư vào Nam” v..v. Vì vậy khoảng 700 ngàn Giáo dân Công giáo đã cùng với các “Chúa thứ hai” của họ ào ào kéo vào Nam.

Còn nữa, trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và Văn Hóa Mỹ (The Vietnam War and American Culture, Columbia University Press, New York, 1991), hai Giáo sư ở đại học Iowa, John Carlos Rowe và Rick Berg, viết, trang 28-29:

Tưởng cũng nên nhớ lại vài sự kiện. Mỹ đã dính sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chiếm thuộc địa cũ của họ, biết rằng kẻ thù là phong trào quốc gia của Việt Nam. Số tử vong vào khoảng nửa triệu. Khi Pháp rút lui, Mỹ lập tức dấn thân vào việc phá hoại Hiệp Định Genève năm 1954, dựng lên ở miền Nam một chế độ khủng bố, cho đến năm 1961, giết có lẽ khoảng 70,000 “Việt Cộng”, gây nên phong trào kháng chiến mà từ 1959 được sự ủng hộ của nửa miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève mà Mỹ phá ngầm. Trong những năm 1961-62, Tổng thống Kennedy phát động cuộc tấn công thẳng vào vùng quê Nam Việt Nam với những cuộc thả bom trải rộng, thuốc khai quang trong một chương trình được thiết kế để lùa hàng triệu người dân vào những trại (ấp chiến lược?) nơi đây họ được bảo vệ bởi những lính gác, giây thép gai, khỏi quân du kích mà Mỹ thừa nhận rằng được dân ủng hộ. Mỹ khẳng định là đã được mời đến, nhưng như tờ London Economist đã nhận định chính xác, “một kẻ xâm lăng là một kẻ xâm lăng trừ phi được mời bởi một chính phủ hợp pháp”. Mỹ chưa bao giờ coi những chính phủ tay sai mình dựng lên là có quyền hợp pháp như vậy, và thật ra Mỹ thường thay đổi những chính phủ này khi họ không có đủ thích thú trước sự tấn công của Mỹ hay tìm kiếm một sự dàn xếp trung lập được mọi phía ủng hộ nhưng bị coi là nguy hiểm cho những kẻ xâm lăng, vì như vậy là phá ngầm căn bản cuộc chiến của Mỹ chống Nam Việt Nam. Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt, vậy mà 27 năm sau, Daniel Ellsberg còn viết trong cuốn Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Viking, 2002, p.255:

“Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ”.

Năm 2006, Bác Sĩ Allen Hassan, một Bác sĩ đã phục vụ tại Việt Nam, đã viết cuốn “Failure To Atone” mà bản dịch tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Trẻ dịch là “Không Thể Chuộc Lỗi” (Đúng ra, dịch đúng nghĩa phải là “tội”, tội ác, chứ không phải “lỗi”, lỗi lầm) nói về những tội ác của quân đội Mỹ ở Việt Nam. Sau đây là vài lời giới thiệu trong bản tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Trẻ mà tôi mua được ở Việt Nam nhân chuyến cùng con cháu về thăm quê hương năm 2007:

Tại hội trường 8 Hội chợ sách Quốc tế Frankfurt ở Đức năm 2006, giữa các khu vự trưng bày sách rộng lớn và không khí giao dịch bản quyền náo nhiệt của các tập đoàn xuất bản hàng đầu thế giới là một gian hàng nhỏ với một điểm đặc biệt có một không hai: Gian hàng chỉ trưng bày và giao dịch bản quyền duy nhất một cuốn sách có tựa đề Failure To Atone – Không Thể Chuộc Lỗi (Tội) – với một poster lớn: “Nước Mỹ không thể chuộc lỗi về những gì đã gây ra trong cuộc chiến tranh Việt Nam! Sự thật chưa từng được tiết lộ của một bác sĩ tình nguyện người Mỹ tại Việt Nam”…

Khi chúng tôi hỏi tại sao lại lấy tên là Không Thể Chuộc Lỗi đặt cho cuốn sách, đại diện bản quyền của bác sĩ Allen Hassan trả lời:

“Mục đích của bác sĩ Allen Hassan khi viết cuốn sách này là muốn những người lính đã từng tham chiến tại Việt Nam và chính quyền Mỹ thật sự hiểu rõ những gì mà nước Mỹ đã gây ra cho người dân Việt Nam và lớn hơn rất nhiều những gì mà người Mỹ từng nghĩ. Nước Mỹ nhớ rất kỹ những gì người khác gây cho họ nhưng lại quên rất nhanh những gì họ đã gây ra cho những người khác. Người chết không thể sống dậy, người tàn tật mãi mãi tàn tật, và nỗi đau mãi mãi là nỗi đau….Khi đọc xong cuốn sách này, mọi người sẽ hiểu bây giờ bất cứ làm việc gì, nước Mỹ cũng không thể chuộc lại lỗi của mình đối với người dân Việt Nam”.

Trong cuốn Không Thể Chuộc Lỗi, bác sĩ Hassan đã đề cập đến chất độc da cam, nhưng đặc biệt, trong ấn bản Việt ngữ, ông đã viết thêm một chương về những hậu quả và di chứng nặng nề của chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã sử dụng tại Việt Nam. Mỹ đã sử dụng bao nhiêu chất độc da cam ở Việt Nam? Thượng Nghị Sĩ Mỹ Gaylor Nelson đã phát biều:

Nước Mỹ đã trút xuống Nam Việt Nam một lương hóa chất độc hại tương đương với mức trung bình cho mỗi đầu người, kể cả phụ nữ và trẻ em, là 6 pound (gần 3 kg).

Di hại to lớn của chất độc da cam ở Việt Nam là điều hiển nhiên, không ai có thể chối cãi. Nhưng nước Mỹ đã muối mặt phủ nhận trách nhiệm. Đáng lẽ sau cuộc chiến, Việt Nam phải đưa Mỹ ra Tòa Án Quốc tế Xử Các Tội Phạm Chiến Tranh nhưng có lẽ tự biết thân phận của một nước nhỏ, có kiện cũng chỉ là “con kiến đi kiện củ khoai”.

Chúng ta hãy đọc thêm vài đoạn trong bài “ Chủ Nghĩa Khủng Bố Và Diệt Chủng Dân Tộc Việt Nam Của Mỹ 1945-1975” (American Terrorism and Genocide of the Vietnamese People, 1945-1974):

Những tội phạm chiến tranh thuộc Thủy, Lục, Không quân Hoa Kỳ đã tàn sát 3 triệu người ở Việt Nam, trong rất nhiều nơi như Mỹ Lai. Hầu hết các nạn nhân là đàn bà và trẻ con.

CIA có ngay cả một chương trình khủng bố chính thức của quốc gia Mỹ ở Việt Nam, được biết là “Chiến Dịch Phụng Hoàng” hay “Kế Hoạch Phụng Hoàng”. [Kế hoạch Phụng Hoàng còn được biết dưới tên “Kế Hoạch Ám Sát” (Douglas Valentine, The Phoenix Program, p. 191: “Phoenix was labeled an Assassination Program”).] Qua Kế Hoạch Phụng Hoàng, nhiều trăm ngàn người đã bị tra tấn đến chết trong những “trung tâm thẩm vấn” trên khắp Nam Việt Nam. Những trung tâm tra tấn này được dựng lên bởi Mỹ rõ ràng cho mục đích đó. Phụ nữ luôn luôn bị hãm hiếp như là một phần của tra tấn trước khi bị giết. Khủng bố, hãm hiếp và giết người hàng loạt một cách đại qui mô trên khắp miền quê là chính sách của tập thể Lục Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Thủy Quân Hoa Kỳ. Cuộc tàn sát ở Mỹ Lai là một chiến dịch trong Kế Hoạch Phụng Hoàng.

Chính sách diệt chủng dân Việt Nam của Mỹ có nguồn gốc từ ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Mỹ đã ủng hộ Pháp trong toan tính lấy lại quyền cai trị đẫm máu của thực dân Pháp ở Đông Nam Á.

John Kerry, Trung Úy Thủy Quân, lãnh tụ của những cựu quân nhân Mỹ ở Việt Nam chống chiến tranh, làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện năm 1971: “Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Thành Cát Tư Hãn, bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này”.

Quá nhiều “con em của chúng ta” đã phạm phải những tội ác cuồng dâm chống nhân loại. Lính Mỹ tra tấn tù binh. Lính Mỹ hiếp người qua đường hậu môn, hãm hiếp và bạo sát đàn bà và con gái. Lính Mỹ tàn sát toàn thể đàn ông, đàn bà, trẻ con trong nhiều làng – kể cả con nít - ở nhiều, nhiều nơi như Mỹ Lai và Thanh Phong.

[Thanh Phong là tên ngôi làng mà nguyên Thượng Nghị Sĩ Robert Kerrey, (không phải là John Kerry) đã chỉ huy một toán SEALS 7 người vào tàn sát 21 người đàn ông, đàn bà và trẻ con trong làng vào tháng 2, 1969. Vào căn nhà lá đầu tiên, toán này đã cắt cổ một ông lão, vợ ông ta và 3 đứa cháu.]

Lực Lượng Đặc Biệt dạy binh sĩ của mình thi hành nhiệm vụ ở Việt Nam phải dùng tra tấn như thế nào là một phần trong sự thẩm vấn.

Chiến dịch Phụng Hoàng nổi tiếng, do CIA dựng lên để quét sạch hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, đã tra tấn những người bị tình nghi như sau:

- Quay điện vào các bộ phận sinh dục của nam và nữ.

- Cắm vào tai một cái đũa gỗ dài 15 cm rồi đập dần đũa vào óc cho đến khi nạn nhân chết.

- Những người bị tình nghi cũng bị ném từ trên trực thăng xuống để làm gương cho những người tình nghi quan trọng khác phải khai, tuy đây có thể coi như là sát nhân đối với nạn nhân bị ném, nhưng cũng là một hình thức tra tấn đối với những người khác.

- Vi phạm Quy Ước Geneva, Mỹ trao tù binh cho đồng minh Nam Việt Nam của họ biết rõ rằng nhưng người này sẽ bị tra tấn, viên chức Mỹ thường có mặt trong cuộc tra tấn.

Cương quyết thi hành dịch vụ diệt chủng, Không Quân Mỹ phát động chiến dịch “Rolling Thunder” tấn công dân Việt Nam năm 1964. Riêng cuộc tấn công này đã thả xuống đất nước nhỏ bé nhiều bom hơn là toàn thể số bom dùng trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Trong 5 năm tiếp theo, nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam, đàn ông, đàn bà, trẻ con bị nghiền nát và thiêu sống bởi những phi hành đoàn của Không Quân Mỹ. Đất nước Việt Nam phải chịu đựng 22 tấn thuốc nổ cho mỗi 1.6 km vuông. Nghĩa là 660 kg chất nổ mạnh cho mỗi người, đàn ông, đàn bà và trẻ con.

Trong 13 năm chiến tranh ác ôn của Mỹ chống dân tộc Việt Nam, tổng cộng là 8 triệu tấn bom (bom Napalm và bom chùm) và chất độc khai quang màu Cam đã thả trên đất nước – và ít ra là 3 triệu người đã bị tàn sát.

Cùng với lò nướng thịt thổ dân Mỹ, lò nướng thịt người Việt Nam của Mỹ đã xếp Mỹ xuống đáy của địa ngục – cùng với những công ty nổi tiếng như Nazi của Đức, chính quyền Công Giáo Ustashi ở Croatia, quân lực Nhật Bản, quân lực Thổ Nhĩ Kỳ, những đoàn quân bạo dâm chiến thắng của Tây Ban Nha, những đoàn quân Mông Cổ, La Mã và những con quỷ diệt chủng như trên.

Trong khi đó thì những người Mỹ ái quốc, kỳ thị chủng tộc tiếp tục sống cái gọi là đời sống “bình thường”, hoàn toàn lãnh đạm với cuộc tàn sát đẫm máu được thi hành nhân danh họ, ăn nhậu trên những miếng thịt bò tái và xem TV, chơi “golf” và đi dự những “parties” trong khi những đứa trẻ Việt Nam bị thiêu sống trong làng mạc của chúng bởi những tên phi công trời đánh của chúng ta, và vô số phụ nữ thường dân Việt Nam bị hãm hiếp tàn bạo và toàn thể các gia đình bị bắn chết bằng súng liên thanh bởi những binh sĩ trời đánh của chúng ta.

Không chỉ những con quỷ Nazi Đức mới phạm tội diệt chủng. Chính quyền ác ôn và quân lực Mỹ của chúng ta cũng phạm tội diệt chủng. Hằng triệu người. Và tuyệt đại đa số nạn nhân là người dân thường không có ai bảo vệ. [Vậy mà có những người chống Cộng hải ngoại đòi đưa Cộng Sản ra Tòa Án Mỹ hay Quốc tế Xử Tội Phạm Chiến Tranh vì vụ Tết Mậu Thân ở Huế]

Hãy coi câu chuyện ở Mỹ Lai như là một thí dụ về người lính Mỹ anh hùng của chúng ta khi hành sự - tàn sát trẻ con và hãm hiếp con gái Việt Nam để làm cho thế giới yên ổn cho những công ty như Coca Cola và hãng dầu Standard.

Nhờ có sự kỳ thị chủng tộc kiêu căng, tự cho là công chính và không quan tâm của Mỹ mà người Việt Nam tiếp tục bị đau khổ. Năm 1985 người ta ước tính là một phần ba đất đai [Nam] Việt Nam bị nhiễm độc, vì Không Quân Mỹ đã dùng thuốc khai quang như Chất Độc Màu Cam. Điều này đã khiến cho Việt Nam nghèo nàn, đất đai bị ô nhiễm nặng và có đầy những trái bom chùm chưa nổ - và người dân bị khủng khoảng tâm lý. 30 năm chiến tranh diệt chủng được nối tiếp bởi gần 20 năm cấm vận của Mỹ. [Giáo sư Noam Chomsky cũng đã châm biếm, cho rằng Mỹ đã thắng một phần ở Việt Nam (A partial victory) vì đã thành công để lại cho Việt Nam một di sản tan hoang đất nước, khó có cơ hội phục hồi về xã hội và kinh tế… (Nhưng CS VN đã phục hồi được về xã hội và kinh tế, và còn tiến xa hơn trước)]

Trong những năm từ khi những binh sĩ Mỹ giết người, hãm hiếp, lực lượng SEALS [Sea, Air and Land Forces], của Thủy Quân bị đá ra khỏi Việt Nam một cách ô nhục, cái di sản ác ôn của Mỹ để lại vẫn tiếp tục có ảnh hưởng đến người dân. Chất độc Da Cam đã đưa đến nhiều vụ khuyết tật bẩm sinh trong những thế hệ người dân Việt Nam và nhiều trăm ngàn trường hợp chết về ung thư đã xẩy ra trong những người sống trong những vùng bị trải thuốc khai quang..

Những trái bom chùm chưa nổ đã tạo ra những bãi mìn không có họa đồ, làm cho mọi người sợ hãi không dám canh tác trong những cánh đồng có thể trồng trọt được và ruộng lúa. Những trái bom đó của Mỹ vẫn tiếp tục giết hại, làm chân tay tàn phế và bị tàn tật suốt đời cho nhiều ngàn trẻ con và người lớn Việt Nam.

“Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse, (Đảng dân Chủ - Oregon), 1967: Theo sự phán xét của tôi, chúng ta sẽ trở thành kẻ có tội vì là sự đe dọa lớn nhất cho nền hòa bình thế giới. Đó là một sự thực xấu xa, và người Mỹ chúng ta không thích đối diện với nó. Tôi thật không muốn nghĩ rằng một trang sử của Mỹ sẽ được viết ra liên quan đến chính sách vô pháp của chúng ta ở Đông Nam Á”.

.......... mời các độc giả đọc tiếp trên trang http://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts040.php

Xem thêm →

Điều 'chưa từng thấy' của nền kinh tế VN 4 tháng đầu 2012

0 nhận xét
Nhìn lại 4 tháng đầu năm 2012 thì thấy tình hình kinh tế của đất nước đang có một vấn đề rất "nóng".

Đó là chuyện lạm phát thấp không khiến các nhà kinh tế mừng mà lại lo ngay ngáy. Vì nguyên nhân giảm lạm phát thực tế lại do sản xuất đình đốn, kinh doanh gặp khó khăn, doanh nghiệp sức cùng lực cạn khả năng tiếp cận vốn không còn. Do vậy chi đầu tư và tiêu dùng "nhỏ dần đều", ngày nghỉ lễ dân thành phố tiết kiệm chi tiêu, nói không với "du lịch". Đó là điều hiếm thấy của kinh tế Việt Nam những năm gần đây.


Từ hàng chục năm nay mới có tình trạng thu nội địa của ngân sách nhà nước giảm so với cùng kỳ năm trước - Ảnh: Reuters.

Lạm phát giảm mạnh, biểu hiện cụ thể là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm mạnh hơn rất nhiều và còn giảm dần đều theo thời gian và có thể về đến “đáy” CPI tính theo năm có thể sẽ rơi vào tháng 7 hoặc tháng 8 khi chẳng ai còn tiền để chi tiêu và sản xuất kinh doanh nữa? mọi vấn đề gọi là "chi tiêu" cả cho tiêu dùng và cho sản xuất kinh doanh đều giảm ? Như vậy là "thành công" hay thất bại của chính sách kiềm chế lạm phát bấy lâu nay? có thể nói chính sách thắt chặt tín dụng và kìm chế lạm phát vưa qua là gây tác dụng "kép" và hiện tại nền kinh tế đang suy giảm mạnh theo quy luật tự nhiên đó là sản xuất đình đốn - tiêu dùng giảm mạnh ... doanh nghiệp đóng cửa ... thất nghiệp tăng ... và người tiêu dùng biết "tiết kiệm" vì túi rỗng ?

Vấn đề đặt ra là nguyên nhân giảm lạm phát hoàn toàn không như mong đợi mà vấn đề nhìn thấy là lạm phát có thể trở lại bất cứ lúc nào vì các nguyên nhân gây lạm phát hiện còn nguy cơ cao vào cuối năm nay, đầu năm sau do còn có những yếu tố gây áp lực của mục tiêu tăng trưởng.

Nói đến cán cân thanh toán sau 4 tháng tổng kết nhìn thấy có cải thiện như  cán cân thương mại (nhập siêu giảm cả về kim ngạch tuyệt đối (0,2 tỷ USD so với 4,83 tỷ USD), cả về tỷ lệ so với xuất khẩu (1,2% so với 17,7%). xuất khẩu tăng cao hơn nhập khẩu, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.Như vậy không có nghĩa là kinh tế hàng hóa trong nước phát triển mà vấn đề khả năng sử dụng nguyện vật liệu nhập cho sản xuất giảm - vì sản xuất đình trệ , còn hàng nhập khẩu cho tiêu dùng thì không bán được "ế" do không "còn nhu cầu" đê sài hàng ngoại nữa vì .... túi của người tiêu dùng đang bị "thủng" hoặc "rỗng " chứ không phải là giảm nhập siêu theo mong đợi.

Về cán cân vãng lai thặng dư gần 2 tỷ USD, cán cân vốn và tài chính thặng dư, nên cán cân thanh toán tổng thể thặng dư 2 tỷ USD Đặc biệt là dự trữ ngoại tệ tăng, trong khi tỷ giá ổn định (năm 2009, 2010 giá USD tăng khoảng 10%, năm 2011 chỉ tăng 2,24%, 4 tháng 2012 giảm 1,04% làm cho khả năng cả năm chỉ tăng 2-3% theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước).Vì sao đó là do nhập siêu giảm như phân tích ở trên, Người tiêu dùng và doanh nghiệp đều "hạn chế "chi tiêu ngoại tệ .... dự ngoại tệ và dự trữ tăng, Đặc biệt là ở hệ thống ngân hàng tăng trưởng tín dụng qua 4 tháng đầu năm đều âm ...

Tăng trưởng sản xuất, kinh doanh vẫn còn gặp khó khăn và không nói quá còn gọi là "đình đốn"vì

Khó khăn vẫn tiếp tục diễn ra cả đầu vào và đầu ra do việc tiếp cận vốn vẫn khó khăn, một phần do lãi suất của các ngân hàng thương mại dù đã giảm xuống nhưng vẫn còn rất cao, một phần do chưa đáp ứng được các điều kiện vay vốn của các doanh nghiệp. Tăng trưởng tín dụng quý 1 mang dấu âm tới gần 2% là một biểu hiện của suy giảm đáng lo ngại.

Một đặc trưng hiếm thấy từ trước tới nay " một chuyên gia kinh tế " Bộ tài chính phát biểu đó là người dân, doanh nghiệp dường như họ đang thờ ơ với việc tăng giá  của các mặt hàng chủ chốt "xăng, điện " không như trước có tình trạng “lên giá theo giá điện, xăng” trước đây mà có tình trạng mới  “giá theo chỉ số CPI” Tức là nếu cứ tăng thì ta ngừng sản xuất kinh doanh? còn người tiêu dùng thì bớt mua đi một chút vì chẳng còn tiền ? Hiện tượng này xuất hiện khi nền kinh tế đi lên hay xuống ? ai cũng biết chẳng cần phân tích nữa ?

Còn đầu ra hàng hóa tiêu thụ rất khó khăn, tăng trưởng rất thấp, tồn kho tiếp tục tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đều thấp kể cả các mặt hàng trọng yếu như xăng,điện lượng tiêu thụ giảm nhiều ... vì sản xuất "đình đốn" và sức mua tiêu dùng thấp.

Như vậy suy giảm tăng trưởng đã được thể hiện qua con số tăng dần theo cấp số nhân các doanh nghiệp ngừng sản xuất, làm thủ tục phá sản, ngừng nộp thuế...; và như vậy  thu ngân sách nhà nước giảm dần đều theo thời gian. Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế  là vấn đề "cảnh báo" từ những nguyên nhân bất ổn của nền kinh tế không được giải quyết  và có hệ lụy.. Vì trái quy luật hoặc là đối lập mục tiêu và điều kiện thực tế.

- Thứ nhất sự bất cập giữa khả năng thực hiện để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm theo nghị quyết của Quốc hội đề ra là rất khó; vì thực tế bấy lâu nay nền kinh tế có tăng trưởng nhưng là" ảo"cụ thể ở các lĩnh vực đầu tư phát triển đê tăng trưởng thì vốn cho đầu tư ấy là đi vay " hay gọi là tăng trưởng là tăng nợ " còn thực chất của vấn đề tăng trưởng của một  nền kinh tế phải là  xã hội phát triển, sự phồn vinh và hưng thịnh của quốc gia phải là sức mạnh chủ động, năng lực cụ thể của nền kinh tế, nội lực và sự phát triển của các tpkt từ  khâu sản xuất, sản phẩm, dịch vụ và tiêu dùng tăng ...

- Thứ hai một sự mâu thuẫn là nếu cứ phấn đấu để đạt được mục tiêu tăng trưởng thì phải tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, thì lạm phát sẽ quay lại vào cuối năm nay và đầu năm sau, sẽ gặp lại vòng luẩn quẩn như đã từng xảy ra.Vì nội lực thực sự của nền kinh tế đang suy giảm rất sâu " sức khỏe " của tất cả các TPKT hiện nay đang có vấn đề do vậy cần khám định kỳ và có chính sách chăm sóc phù hợp để ổn định sức khỏe rồi mới phát triển và tăng trưởng được.

- Thứ ba vấn đề lạm phát hiện nay suy giảm là do tăng trưởng (đình trệ) hay nói cách khác là do sản xuất đình đốn và chỉ số tiêu dùng giảm sâu ...thu ngân sách Nhà nước giảm  như vậy mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội  là khó thực hiện; Nhưng nếu ta không có phương án tháo gỡ để vừa đình trệ tăng trưởng, đình đốn sản xuất lại vừa lạm phát cao vì nguy cơ gây lạm phát đang còn nguyên giá trị tiềm ẩn chứ không nói là tăng . Như vậy nền kinh tế sẽ gặp phải giai đoạn khó khăn kép.

Trước những đặc trưng "hiếm thấy" của nền kinh tế sau 4 tháng đầu năm 2012 các chuyên gia kinh tế đang rất "buồn, phiền" và tìm ra những giải pháp tháo gỡ nhưng giải pháp nào đưa ra cũng còn gặp trở ngại đó là vấn đề mâu thuẫn ngay giữa mục tiêu và thực tế của chính sách ? Vì vậy quan điểm cần thiết nhất hiện nay là phải nhìn lại tổng thể nền kinh tế. Đánh giá cụ thể chính xác và thực tế của từng TPKT, từ đó xây dựng và thực hiện các chính sách điều chỉnh phù hợp ? Đặc biệt là cần phải tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm trong tất cả các ngành và các lĩnh vực ở mọi TPKT, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, phục hồi & phát triển sản xuất  thì mới có điều kiện thực hiện tăng trưởng.

MAI HUY (KINH TẾ - DOANH NHÂN THỜI ĐẠI)
Xem thêm →

CTQH Nguyễn Sinh Hùng đánh trống khai hội du lịch Cửa Lò 2012

0 nhận xét
Dịp nghỉ lễ 30/4 – 1/5 đã có hơn 10 vạn lượt khách đến với khu du lịch xinh đẹp – thân thiện – mến khách của Cửa Lò để nghỉ dưỡng, vui chơi, tắm biển, và thưởng thức các món ăn đặc sản nổi tiếng.

Ông Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội đã đánh trống khai hội, chính thức mở màn cho năm du lịch Cửa Lò 2012.

nguyen-sinh-hung

Ông Nguyễn Sinh Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội đánh hồi trống khai mạc.

Sau hồi trống khai hội, một chương trình văn nghệ đặc sắc và màn pháo hoa nghệ thuật “Cửa Lò sóng hát” đã được trình diễn để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho du khách thập phương và nhân dân thị xã.

Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo và quản lý chặt chẽ nên tình trạng nâng ép giá, chèo kéo khách đã được đầy lùi. Du khách đến với Cửa Lò thực yên tâm, thoải mái bởi sự  phục vụ tận tình, chu đáo và an toàn.

Dịp lễ hội tuy đông người nhưng Cửa Lò vẫn được đảm bảo sạch sẽ, an ninh được đảm bảo an toàn tuyệt đối cho du khách khi tắm biển cũng như tham gia giao thông hoặc vui chơi, nghỉ dưỡng.


Màn pháo hoa dài hàng chục phút mãn nhãn du khách đến với biển Cửa Lò đêm 30/4

Nhiều giải thể thao, vui chơi giải trí của quốc gia, của tỉnh, của thị xã như giải Golf vô địch quốc gia trung niên năm 2012, giải bóng chuyền bãi biển, cầu lông, đua thuyền toàn tỉnh, các trò chơi dân gian như chọi gà, cờ người đã thu hút sự quan tâm của người dân và du khách.

Đến với Cửa Lò năm nay, du khách được hòa mình cùng sóng biển, gió trời thưởng thức những món ăn đặc sản, thơm ngon của Cửa Lò, những nụ cười, cử chỉ thân thiện mến khách, hòa mình vào không gian xứ Nghệ với nhiều hoạt động sôi nổi mang đậm văn hóa miền trung.
Xem thêm →

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dự lễ tưởng niệm 14 năm ngày mất cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh

0 nhận xét
Nhân 14 năm ngày mất của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (27/4/1998-27/4/2012), chiều qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến dâng hương tưởng nhớ cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo kiên định và sáng tạo, người con ưu tú của quê hương Hưng Yên tại nhà tưởng niệm cố Tổng Bí thư, thôn Yên Phú, xã Giai Phạm huyện Yên Mỹ.

Truong Tan Sang

Cùng dự lễ dâng hương có ông Nguyễn Văn Cường, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Văn Thông, Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên.

 Kính cẩn nghiêng mình trước anh linh cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng lãnh đạo tỉnh Hưng Yên, cán bộ và nhân dân huyện Yên Mỹ đã dâng hương bày tỏ lòng thành kính sâu sắc đối với người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo kiệt xuất đã đóng góp nhiều công lao to lớn cho quê hương, đất nước.

Cuộc đời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mãi mãi gắn liền với sự nghiệp đổi mới của Đảng. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng đem hết sức lực cống hiến cho Đảng và nhân dân, đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân lên trên hết.

Cả cuộc đời hoạt động và cống hiến cho cách mạng, dù bận lo công việc chung cho đất nước, cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vẫn dành sự quan tâm, theo dõi từng diễn biến của quê hương Hưng Yên. Mỗi lần về thăm quê nhà, ông động viên cán bộ và nhân dân phát huy truyền thống cách mạng, tăng cường đoàn kết, làm tốt công tác xây dựng Đảng, đẩy mạnh việc phát triển kinh tế xã hội, chăm lo đời sống nhân dân.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang  đã dành thời gian hỏi thăm tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hưng Yên, nói chuyện với lãnh đạo tỉnh và cán bộ, nhân dân địa phương./.

Thu Hòa

Xem thêm →

TBT Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại đảng viên trẻ Thủ đô

0 nhận xét
Tối 22-4, tại Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Việt - Xô, Thành đoàn Hà Nội đã tổ chức buổi gặp mặt 1.000 đảng viên trẻ Thủ đô xuất sắc và tuyên dương 100 đảng viên trẻ xuất sắc tiêu biểu. Dự buổi gặp mặt này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu quan trọng. [Thôn làm báo] Hà nội mới xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Trước hết, tôi xin gửi tới các vị đại biểu, các đồng chí và qua các vị đại biểu, các đồng chí đến toàn thể thế hệ trẻ Thủ đô thân yêu của chúng ta lời chào thân ái, lời thăm hỏi ân cần và lời chúc tốt đẹp nhất.

Tôi rất hoan nghênh Thành đoàn Hà Nội đã có sáng kiến tổ chức cuộc gặp mặt 1.000 đảng viên trẻ xuất sắc của Thủ đô, nhằm tôn vinh, biểu dương các đảng viên tốt và khích lệ phong trào phấn đấu gia nhập Đảng, tham gia công tác xây dựng Đảng, đúng vào dịp toàn Đảng, toàn dân ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay".


Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh luôn xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng. Ảnh: Viết Thành

Tôi được biết các đồng chí đã hưởng ứng Nghị quyết Trung ương 4 khá sớm. Hội nghị Trung ương 4 họp từ ngày 26 đến 31-12-2011. Ngày 6-1-2012, Ban Thường vụ Thành đoàn đã thông báo nhanh kết quả Hội nghị Trung ương 4 và bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư đến cán bộ chủ chốt của Thành đoàn và các cơ sở trực thuộc. Lúc bấy giờ chưa có Nghị quyết chính thức của Trung ương. Sau khi có Nghị quyết, ngày 12-3 các đồng chí đã tổ chức quán triệt nội dung, tinh thần Nghị quyết đến toàn thể cán bộ cơ quan Thành đoàn, chỉ đạo Ban Thường vụ Thành đoàn nghiên cứu sâu nội dung Nghị quyết. Ngày 25-3 đã tổ chức tọa đàm "Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay". Điều đó thể hiện sự nhạy bén của Thành đoàn, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội, thể hiện tình cảm đối với Đảng và trách nhiệm của Đoàn với công tác xây dựng Đảng. Tôi đánh giá cao tinh thần và việc làm này của các đồng chí.

Tôi biết Hà Nội hiện nay có 34 vạn đảng viên; 62 vạn đoàn viên, thanh niên; 2,4 triệu thanh niên, thế mà chúng ta chỉ chọn được có 1.000 đảng viên trẻ xuất sắc, như vậy chắc là phải lựa chọn cẩn thận lắm. Các đồng chí ngồi đây thực sự là những hạt giống quý của Đảng, là những bông hoa đẹp trong vườn hoa của thế hệ trẻ Thủ đô. Có phải thế không? Tôi nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương các đồng chí - những chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đã phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mình. Tôi nghĩ, đã là đảng viên cộng sản thì không có sự phân biệt trẻ hay già, nam hay nữ, không phân biệt cấp bậc, chức vụ, cương vị công tác... Dù ở vị trí nào, làm công việc gì, tất cả đều có một mẫu số chung, tiêu chí chung để đánh giá, đó là có thực sự đóng được vai trò tiên phong, gương mẫu không? Trong Điều lệ Đảng đã xác định, đảng viên trước hết phải tiên phong, gương mẫu. Tiên phong có nghĩa là đi đầu; gương mẫu tức là làm mẫu, làm gương cho người khác noi theo. Tiên phong cả về tư tưởng, sự hiểu biết và về hành động thực tế; những nơi nào khó khăn nhất, gian khổ nhất, hy sinh nhiều nhất cần có mặt của đảng viên. Gương mẫu cả trong việc làm, trong đời sống thường ngày, từ phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, cư xử đều phải gương mẫu. Ai làm được điều đó thì đều là vẻ vang.

Các đồng chí được tuyên dương lần này đều là những đảng viên trẻ, cao nhất cũng mới ngoài 30 tuổi, nhiều đồng chí mới ngoài 20 tuổi, rất trẻ, đang ở giai đoạn hết sức sung sức, triển vọng phát triển còn rất dài. Các đồng chí còn nhiều cơ hội, điều kiện để cống hiến, trưởng thành, để đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Chắc các đồng chí cũng nghĩ như tôi, đây mới chỉ là cố gắng bước đầu, chặng đường trước mắt còn gian nan lắm, còn dài lắm, cho nên ta không thỏa mãn với những gì đã làm được mà phải tiếp tục học tập, rèn luyện, tu dưỡng nhiều lắm. Nếu làm khoa học, làm quản lý, làm lãnh đạo thì phải lao tâm khổ tứ, ngày đêm suy nghĩ, trăn trở, tìm mọi cách sáng tạo để thúc đẩy công việc. Nếu là người lao động bình thường thì hết lòng, hết sức tận tụy để đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao nhất, đóng góp được nhiều nhất.

Một điều hết sức có ý nghĩa nữa là hôm nay chúng ta tổ chức buổi gặp mặt này đúng vào ngày 22-4, kỷ niệm 142 năm Ngày sinh của V.I.Lenin và sắp tới là kỷ niệm 122 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chắc không phải là ngẫu nhiên. Chúng ta biết, Lenin là lãnh tụ thiên tài, một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà chính trị lỗi lạc, nhà hoạt động thực tiễn kiệt xuất, người thầy của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Lenin đã bổ sung, phát triển học thuyết của Marx và Engels về chủ nghĩa xã hội khoa học và đề ra lý luận về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, về xây dựng Đoàn Thanh niên và nhiệm vụ của thanh niên. Lenin đặc biệt nhấn mạnh, trong điều kiện đảng cầm quyền, phải đề phòng và chống được hai nguy cơ lớn nhất: đó là sai lầm về đường lối chính trị và sự quan liêu, xa rời quần chúng. Sau này Bác Hồ cũng nhiều lần cảnh báo như vậy. Đây là hai nguy cơ lớn nhất sẽ làm tiêu vong Đảng và mất luôn cả chế độ. Chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, chính là làm theo lý luận Marx - Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Còn riêng đối với Đoàn Thanh niên và nhiệm vụ của thanh niên, Lenin cũng nhiều lần căn dặn: Nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên là giúp Đảng đào tạo thế hệ những người cộng sản trẻ tuổi để mang lá cờ của Đảng đến đích cuối cùng; Đoàn Thanh niên là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên. Có người hỏi Lenin nhiệm vụ của thanh niên là gì thì Lenin trả lời chỉ có một chữ thôi. Đó là: Học! Người còn nhấn mạnh: "Học, học nữa, học mãi!". Chống bệnh "kiêu ngạo cộng sản". Tôi hiểu nội dung học tập là học tập chủ nghĩa Marx - Lenin, chủ nghĩa xã hội, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Học trong nhà trường, học trong thực tiễn cuộc sống, học quần chúng, học nhân dân và học chính những tấm gương tốt trong đời sống thường ngày. Đoàn Thanh niên phải tập hợp, thu hút thanh niên tham gia các phong trào hành động cách mạng để rèn luyện, giáo dục chứ không phải học chay. Các đồng chí có mặt ở đây hôm nay phải nêu gương cho người khác học và chúng ta học tập lẫn nhau. Đặc biệt là học Lenin, học Bác Hồ, vừa học vừa làm theo, để chúng ta trở thành những người có ích. "Nếu là hoa hãy là hoa hướng dương; nếu là chim hãy là chim câu trắng; nếu là đá hãy là đá kim cương; nếu là người hãy là người cộng sản!". Chắc các đồng chí hát mãi bài này rồi phải không, trước đây các chiến sĩ cách mạng hát cả trong nhà tù. Điều mà Lenin dạy sâu sắc lắm, hôm nay được các đồng chí trao đổi vấn đề này, tôi rất phấn khởi, rất xúc động.

Nhiệm vụ sắp tới còn nặng nề lắm, chúng ta có biết bao nhiêu việc phải làm. Rất hoan nghênh Đoàn Thanh niên nói chung trong đó có Đoàn Thanh niên của Hà Nội nói riêng, trong thời gian vừa qua đã hưởng ứng rất tích cực Nghị quyết của Đại hội XI, các nghị quyết của Trung ương, nghị quyết của thành phố, triển khai các công việc với nhiều sáng kiến sáng tạo. Các phong trào Thanh niên tình nguyện, Tiếp sức mùa thi, tham gia giữ gìn trật tự, an toàn giao thông... và nhiều phong trào lớn lao khác của Thủ đô đang rất tốt, đang có khí thế. Nếu các đồng chí hưởng ứng nhiệt tình tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 thì tôi rất hoan nghênh. Tôi đề nghị việc tuyên dương 1.000 đảng viên trẻ xuất sắc cũng như phong trào thi đua "Người tốt, việc tốt" của Thủ đô ta cần được nhân rộng để mọi người cùng học tập, cùng làm theo, lồng trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Bác Hồ mà Trung ương và Thành ủy Hà Nội đang tích cực chỉ đạo thực hiện.

Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn luôn đặt niềm tin yêu vào Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và thế hệ trẻ Việt Nam, trong đó có thanh niên Thủ đô Anh hùng của chúng ta. Đồng thời cũng đòi hỏi, kỳ vọng Đoàn phải làm tốt hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần đào tạo lớp lớp thanh niên trở thành những chiến sĩ tiên phong, mang lá cờ của Đảng và Bác Hồ tới đích cuối cùng.

Với tất cả niềm tin yêu, hy vọng, thân thiết nhất, một lần nữa xin chúc mừng các đồng chí được vinh danh là đảng viên trẻ xuất sắc, đảng viên trẻ xuất sắc tiêu biểu; mong rằng sắp tới các đồng chí sẽ đạt được nhiều thành tích to lớn hơn nữa, tiến bộ hơn nữa để buổi gặp mặt hôm nay của chúng ta thật sự có ý nghĩa và tác dụng thiết thực. Chúc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, là đội xung kích của cách mạng; thanh niên là rường cột của dân tộc, là người chủ tương lai của nước nhà! Nhất định các đồng chí phải làm chủ nước nhà một cách chắc chắn nhất.
Xem thêm →
Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Đại thắng Mùa xuân 1975: Thắng lợi của sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh

0 nhận xét
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy oanh liệt mùa xuân 1975 là một trong hai sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX. Chỉ trong 57 ngày đêm (4-3 đến 30-4) tiến công và nổi dậy, quân và dân ta đã đập tan đội quân tay sai Mỹ đông hơn một triệu tên, đánh đổ chính quyền Ngụy đã từng tồn tại 21 năm, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thắng lợi to lớn này đã khép lại một giai đoạn lịch sử chia cắt đất nước, mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân dân Việt Nam: Dân tộc được độc lập, Tổ quốc được thống nhất, hòa bình, trường tồn, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Việt Nam, một nước nhỏ và nghèo, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn và hiện đại của một siêu cường là đế quốc Mỹ, làm chấn động địa cầu, là sự kiện chưa từng có, khiến cho nước Mỹ bàng hoàng, thế giới kinh ngạc. Mỹ chưa bao giờ thừa nhận chúng thua, nhưng khi ta giải phóng hoàn toàn miền Nam trong mùa xuân 1975 đại thắng, thì Ních Xơn, một trong năm Tổng thống Hoa Kỳ, chua chát thú nhận: “Tấn thảm kịch Việt Nam đã làm tổn thương nước Mỹ, làm tổn hại chúng ta trong con mắt bạn bè nước ngoài, hạ thấp chúng ta trong con mắt đối phương. Nhưng nó làm tổn thương chúng ta nhiều nhất ở trong nước. Sự thất bại của chúng ta ở Việt Nam làm hổ thẹn một nước mà không mấy khi thất bại”. Và ngày nay “nước Mỹ đang trong cơn đau dữ dội của Hội chứng Việt Nam”(1).

Quân giải phóng vào Buôn Mê Thuột

Người chiến thắng, kẻ thua trận đã được minh định rõ ràng, chứ không phải chỉ Việt Nam tuyên truyền là mình chiến thắng. Có điều lạ là kẻ thua không biết vì sao họ thua, vì sao Việt Nam chiến thắng? Câu hỏi này cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ đối với một số nhà chính trị, quân sự, chuyên gia Mỹ. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến tranh phi nghĩa, trái hẳn với nhân đạo, đối lập với nhân dân. Đã phi nghĩa thì những chiến lược gia Mỹ dù có thông thái, tài ba đến đâu cũng không thể giúp cho chính quyền Oasinhtơn vạch ra được một chiến lược, một kế hoạch đúng đắn. Vì họ luôn duy ý chí, không nắm được quy luật khách quan của chiến tranh và bị quy luật ấy chi phối, tác động, khiến binh lính Mỹ ở chiến trường luôn luôn bị động, phải hành động theo sự điều khiển của đối phương, phải đánh theo cách đánh của đối phương trong suốt cuộc chiến tranh. Song, yếu tố nào, nguyên nhân nào đưa nhân dân, dân tộc Việt Nam đến chiến thắng vẻ vang mang tầm vóc thời đại và ý nghĩa quốc tế to lớn đó?

Sư đoàn 2 tiến vào Đà Nẵng

Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố chính tạo nên sức mạnh Việt Nam và cũng là nguyên nhân quyết định nhất của chiến thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, chiến thắng 30-4-1975 nói riêng. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” là Người đã vận dụng bài học lịch sử chống ngoại xâm của ông cha ta từ ngàn xưa để huy động sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc kháng chiến và cùng với Đảng, Người đề ra đường lối giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc do một Đảng lãnh đạo, một Nhà nước điều hành thống nhất. Đó là sự sáng tạo đặc sắc về Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng ta, dân tộc ta. Tiếp thu những kinh nghiệm của người xưa, chắt lọc, tìm ra cái mới đúng với quy luật được cả xã hội và bạn bè trên thế giới đồng tình ủng hộ, để đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cuối cùng hội tụ sức mạnh chiến thắng ngày 30-4-1975, làm nên một mốc son chói lọi trong lịch sử Việt Nam, là một sự sáng suốt rất không đơn giản. Từ trong đường lối chung đó, Đảng ta mà tập trung là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đề ra nghệ thuật của cuộc kháng chiến là tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; thắng địch từng bước, quân sự, chính trị song song trên ba vùng chiến lược, kết hợp nhiệm vụ giải phóng dân tộc với nghĩa vụ quốc tế, đánh Mỹ, nhưng phải bảo vệ hậu phương chiến lược miền Bắc và phe xã hội chủ nghĩa…

Quân giải phóng tiến vào Huế

Sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng của mọi thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Không có nền tảng đó thì không có chiến thắng ngày 30-4. Nền tảng đó đã giáo dục, động viên toàn dân tộc đoàn kết thống nhất, phát huy cao độ nội lực, tự nguyện kháng chiến chống giặc ngoại xâm, diệt trừ nội phản, vì một lẽ sống còn: Độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Cũng chính nền tảng ấy đã tạo ra sức mạnh của hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa và hậu phương tại chỗ miền Nam, huy động được sức mạnh quốc tế và sức mạnh thời đại kết hợp với sức mạnh dân tộc thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng giặc Mỹ. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và thời đại là một yếu tố mà nếu thiếu nó thì cuộc kháng chiến của nhân dân ta sẽ gặp muôn vàn khó khăn không dễ vượt qua. Chính trên cái nền tảng ấy mà Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, đánh bại địch từng bước, đẩy lui chúng từng phần để tạo ra những thời cơ mới có lợi cho cuộc kháng chiến. Năm 1972, sau khi đánh bại quân chủ lực Ngụy Sài Gòn ở Quảng Trị, Đắc Tô – Tân Cảnh, Lộc Ninh và đánh thắng cuộc tập kích đường không bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội – Hải Phòng, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, ta đã tạo ra tình thế cách mạng trực tiếp rất thuận lợi. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương tiếp tục cuộc tiến công, đánh chiếm Thượng Đức (Quảng Nam) và Phước Long, qua đó rèn luyện bộ đội ta, thử sức quân chủ lực Ngụy, thăm dò thái độ của Mỹ khi ta đánh lớn. Cuộc tiến công Thượng Đức và Phước Long thắng lớn, tạo ra thời cơ mới, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định nắm lấy thời cơ tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam trong hai năm 1975, 1976; mở đầu đánh ở Tây Nguyên, mục tiêu then chốt là Buôn Ma Thuột. Nhờ quyết định và hành động đúng thời cơ, nên chỉ trong 33 tiếng đồng hồ từ ngày 10 đến 11 tháng 3, ta đã giải phóng Buôn Ma Thuột – một trung tâm chính trị, quân sự của Mỹ, Ngụy ở Cao nguyên Trung phần.

Cuộc nổi dậy của nhân dân Mỹ Tho

Hai ngày sau giải phóng Buôn Ma Thuột, quân ta tiếp tục tiến công địch từ ngày 14 đến 17-3, quân ta tiêu diệt Sư đoàn 23 Ngụy, giải phóng tỉnh Đắk Lắk. Ngụy quyền, Ngụy quân Sài Gòn hoang mang, dao động cực độ, vội vã rút chạy khỏi Tây Nguyên, mở đầu bước suy sụp mới của địch. Trận Buôn Ma Thuột từ thắng lợi của một chiến dịch trở thành thắng lợi chiến lược. Ngày 18-3, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định bổ sung phương án giải phóng miền Nam trong năm 1975 thay cho phương án giải phóng miền Nam trong hai năm trước đây và ra lệnh tiến công Huế, Đà Nẵng. Ngày 25-3, ta giải phóng Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi; cùng trong ngày này, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975. Bốn ngày sau giải phóng Huế, ta giải phóng Đà Nẵng. Các ngày 30, 31 tháng 3 và ngày 1, 2, 3 tháng 4 ta giải phóng các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, quân cảng Cam Ranh. Dải đất miền Trung từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận và Tây Nguyên sạch bóng quân thù, làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng chiến lược hoàn toàn có lợi cho cách mạng miền Nam. Địch sa sút và tan rã lớn. Ta càng đánh càng mạnh. Cuộc chiến tranh cách mạng đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt một ngày bằng 20 năm.

Quân giải phóng đánh chiếm sân bay Xuân Lộc

Thời điểm mở cuộc Tổng tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch đã chín muồi, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn – Gia Định trong thời gian sớm nhất – chậm nhất là trong tháng 4-1975 không thể để chậm. Thực hiện quyết tâm của Đảng, ngày 7-4, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh cho 5 cánh quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Các cánh quân của ta trong đêm 7-4 đã tăng tốc độ hành quân cả đêm và ngày đến vị trí tập kết chiến dịch đúng quy định. Ngày 9-4, Quân đoàn 4 bắt đầu tiến công địch trong thị xã Xuân Lộc; địch phản kích quyết liệt, buộc các đơn vị của ta phải thay đổi chiến thuật, rút khỏi Xuân Lộc, đánh vòng ngoài, diệt địch ở Túc Trưng, Kiệm Tân, theo đường 20 phát triển đánh địch ở ngã ba Dầu Dây, cắt đường số 1 về Sài Gòn. Ngày 14-4, cánh quân hướng Đông tiến công vào tuyến phòng thủ Phan Rang đến ngày 16 chiếm thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn, diệt và bắt toàn bộ quân địch ở đây, giải phóng tỉnh Ninh Thuận. Ngày 19-4, Quân đoàn 2 giải phóng Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận, thần tốc tiến vào Long Khánh, phối hợp với Quân đoàn 4 giải phóng Xuân Lộc. Cánh cửa thép hướng Đông đã mở. Trên các hướng Bắc, Tây Bắc, Đông và Tây Nam, quân ta dồn dập tiến công tiêu diệt các sư đoàn chủ lực địch phòng thủ vòng ngoài, áp sát lực lượng vào vùng ven đô. Nắm vững thời cơ và hành động đúng thời cơ thì sức ta một hóa thành mười, thành trăm, đánh đâu được đó, thắng như chẻ tre. Cùng trong ngày 14-4, Bộ Chính trị đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn là Chiến dịch Hồ Chí Minh, do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng làm chính ủy. Ngày 22-4, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng điện chỉ đạo Bộ Chỉ huy chiến dịch: “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc Tổng tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không để chậm. Nếu để chậm thì không có lợi về quân sự chính trị. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nắm vững thời cơ lớn chúng ta nhất định toàn thắng”. Và Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn-Gia Định trước ngày 30-4-1975.

Sư đoàn 10, quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất

Giữa lúc quân đội, chính quyền Sài Gòn đang trong cơn hoảng loạn, thì phi công Nguyễn Thành Trung lái chiếc máy bay F5E của Mỹ, ném bom Dinh Độc Lập và sau đó anh dẫn đường cho phi đội không quân ta dùng 5 máy bay A37 ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Trận bom của Nguyễn Thành Trung làm tăng thêm nỗi lo sợ và rối loạn nội bộ Mỹ, Ngụy. Tổng thống Mỹ G.R.Pho lập tức hủy bỏ chiến dịch di tản bằng máy bay có cánh cố định, chuyển sang di tản bằng máy bay lên thẳng mang mật danh “người liều mạng”. 5 giờ 30 phút ngày 30-4, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích, đánh chiếm 5 mục tiêu then chốt đã lựa chọn trong nội đô: sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc Lập, Tổng Nha cảnh sát đô thành, Biệt khu thủ đô. Từ bốn hướng Đông, Bắc và Tây Bắc, Tây Nam, quân ta đồng loạt tiến công vào Sài Gòn phối hợp với quần chúng nhân dân nổi dậy, đến 11 giờ 30 phút ta làm chủ các mục tiêu và cắm cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng lên Dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh và nội các chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Cùng với cuộc Tổng tiến công giải phóng Sài Gòn-Gia Định, quân ta đánh chiếm, giải phóng các đảo và quần đảo ở ven biển miền Trung và Trường Sa. Quân và dân các tỉnh miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long tiến công và nổi dậy diệt và làm tan rã Quân đoàn 4 Ngụy, giải phóng các tỉnh Long An, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu, đảo Phú Quốc, Bà Rịa-Vũng Tàu. Ngày 1-5, ta tiếp tục giải phóng các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Chương Thiện, Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc, Kiến Tường, Sa Đéc, Côn Đảo. Đến ngày 1-5-1975, toàn bộ các tỉnh, thành phố trên đất liền và các đảo, quần đảo ở biển Đông trên toàn miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng.

Mũi tấn công của Quân đoàn 2 vào Dinh độc lập

Thắng lợi to lớn, toàn diện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh để lại cho ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có những bài học sau đây:

Một là, xây dựng Đảng vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra vô cùng ác liệt, phức tạp trên nhiều mặt quân sự, chính trị và ngoại giao, trong nước và quốc tế. Kẻ địch có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh nhất thế giới, chúng tiến hành cuộc chiến tranh “Tăng cường tư bản”, sử dụng những vũ khí hiện đại nhất để chống lại nhân dân ta. Trong hoàn cảnh đó, Đảng ta đã bình tĩnh, kiên định mục tiêu cách mạng: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đánh giá đúng kẻ thù và so sánh đúng lực lượng đôi bên đối kháng, hạ quyết tâm chính xác, đề ra đường lối kháng chiến chiến lược và phương pháp cách mạng đúng, sáng tạo phù hợp với các thời kỳ biến chuyển của cuộc chiến tranh. Đường lối, chiến lược kháng chiến và phương pháp cách mạng đúng đắn đó đã dẫn dắt quân và dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cuối cùng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, thu giang sơn về một mối. Để lãnh đạo quân và dân kháng chiến, trước hết và trên hết, Đảng ta luôn luôn trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn luôn chỉnh đốn, tổ chức Đảng, xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh toàn diện cả về tư tưởng, chính trị, tổ chức, mà hạt nhân là xây dựng “chi bộ 4 tốt” (miền Bắc), “3 tốt” (miền Nam), xây dựng đội ngũ đảng viên, cấp ủy các cấp trung thành với sự nghiệp của đảng, của dân, cần cù, dũng cảm, sáng tạo, gương mẫu, gian khổ không ngại, ác liệt không sờn, luôn luôn đi đầu trong chiến đấu và công tác, dẫn dắt quần chúng noi theo. Đó là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Đảng lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hai là, dựa vào dân, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện

Dựa vào dân, phát huy lòng yêu nước của nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng là giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà và đi lên chủ nghĩa xã hội là quan điểm cơ bản của Đảng và Hồ Chủ tịch. Cuộc kháng chiến chống Mỹ phức tạp, khó khăn và quyết liệt trên nhiều mặt, chỉ có sức mạnh của toàn dân mới vượt qua được. Hồ Chủ tịch luôn dạy chúng ta bất kỳ tình huống nào cũng phải bám chắc lấy dân, dựa vào dân. Đảng ta dựa vào dân với niềm tin tưởng tuyệt đối “việc gì khó dân liệu cũng xong”. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi đã minh chứng hùng hồn hiệu quả của sức mạnh toàn dân. Dựa vào dân, Đảng ta đã giáo dục, giác ngộ chính trị cho nhân dân, tổ chức họ vào những đoàn thể kháng chiến, thực hiện phương châm toàn dân đánh giặc, toàn diện đánh giặc. Đồng thời, Đảng ta luôn chăm lo bồi dưỡng sức dân, làm cho đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân ngày càng nâng cao. Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy trong mọi lĩnh vực: xây dựng, củng cố vùng giải phóng, đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và binh vận. Trên những lĩnh vực đấu tranh này, nhân dân là người sáng tạo, sáng kiến những phương pháp đấu tranh hay, hiệu quả, góp vào truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc những kinh nghiệm quý.

Ba là, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và tính kỷ luật tự giác cho toàn quân, toàn dân


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đặc biệt chú trọng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công – nông và trí thức. Ở miền Bắc xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ở miền Nam xây dựng Mặt trận Dân tộc giải phóng. Tuy hai mặt trận nhưng chỉ là cùng một nhiệm vụ đoàn kết toàn dân đánh Mỹ, xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam. Đảng ta đã tập hợp được các lực lượng yêu nước vào một mặt trận chung, khối đoàn kết liên minh công - nông - trí thức luôn phát triển, củng cố vững chắc, đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến. Trên cở sở liên minh công – nông và trí thức do Đảng lãnh đạo, sức mạnh dân tộc được phát huy cao độ đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ và cuối cùng làm nên một Mùa Xuân 1975 đại thắng. Quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thống nhất, đồng thời với mở rộng dân chủ, làm cho mọi người tự giác chấp hành mệnh lệnh, kỷ luật. Nhờ tính kỷ luật tự giác đó, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, các lực lượng quân sự, chính trị đã phối hợp nhịp nhàng, ăn ý, đúng thời gian quy định nên đã đưa cuộc Tổng tiến công và nổi dậy nhanh chóng giành thắng lợi./.

Đại tá Nguyễn Văn Minh

-----------

(1) Richard Nixơn – 1999: Chiến thắng mà không cần chiến tranh, Nxb. Simon and Schuster.

Nguồn: http://www.tuyengiao.vn/Home/lyluanthuctientutuong/2012/4/40884.aspx
Ảnh: http://lhu.edu.vn/?CID=117&NewsID=10824
Xem thêm →

Danh mục

 

Bài viết tiêu điểm

Từ khoá hot: Hoat dong thu tuong Nguyen Tan Dung , Nguyen Tan Dung, Tiểu sử CTN Trương Tấn Sang, Bi thu Le Thanh Hai, Hoat dong Bo truong Tran Dai Quang, tieu su Tran Dai Quang, Vai trò Thủ tướng, Tiểu sử TBT Nguyễn Phú Trọng, Do Ba Ty, Nguyen Thanh Phuong, Vo Van Thuong, Nguyen Bao Hoang
Thon Lam Bao Thon Lam Bao
9.9105000000 Designed by